Thi công nội thất khách sạn gỗ công nghiệp tại Đà Nẵng

Xưởng Làm Mộc nhận khảo sát, sản xuất và thi công phần nội thất gỗ công nghiệp cho khách sạn theo công trình tại Đà Nẵng. Với cơ sở lưu trú, khó nhất không phải chọn một chiếc giường đẹp, mà là làm rõ mỗi loại phòng cần những món gì, bao nhiêu phòng dùng chung một mẫu và phòng nào phải sửa theo hiện trạng. Tủ, bàn, đầu giường, chỗ để hành lý và đồ gỗ ở sảnh còn phải ăn khớp với ổ điện, thiết bị và cách nhân viên dọn phòng. Bài này giúp anh/chị lập danh mục phần gỗ để trao đổi với Xưởng trước khi đo, vẽ và báo giá.

Xưởng làm phần đồ gỗ nội thất theo phạm vi hai bên chốt. Cơ sở có thể giao riêng buồng phòng, thêm quầy lễ tân, tủ đồ vải hoặc một khu khác; không phải cứ gọi “nội thất khách sạn” là mặc nhiên gồm xây dựng, điện nước, điều hòa, thiết bị, đồ vải và mọi đồ rời. Nếu anh/chị đang sửa khách sạn đã hoạt động, cần cho biết khu nào còn đón khách và khung giờ được đưa vật tư vào. Việc chia đợt làm và bàn giao phải dựa trên điều kiện thực tế của công trình.

Phần đồ gỗ nào cần tính trong một công trình khách sạn?

Hãy tách trước thành ba nhóm. Buồng phòng là nơi có hạng mục lặp lại nhiều nhất: giường hoặc ốp đầu giường, tủ áo, bàn, kệ, chỗ đặt hành lý và các mặt gỗ khác theo bản vẽ. Khu khách dùng chung có thể gồm quầy lễ tân, mảng ốp, kệ hoặc tủ lưu trữ ở sảnh. Khu phục vụ có thể cần tủ đồ vải, tủ dụng cụ hoặc kệ tại nơi nhân viên được phép sử dụng. Đây là danh sách để kiểm phạm vi, không phải gói cố định mà khách sạn nào cũng cần.

Ngay trong một phòng, từng món phải được gọi đúng việc. Tủ áo treo được bao nhiêu đồ và cửa mở theo hướng nào? Bàn có dùng cho khách ngồi làm việc hay chỉ đặt đồ? Chỗ hành lý là kệ cố định, hộc trong tủ hay món rời không thuộc phần xưởng? Khu minibar có tủ lạnh thật hay chỉ là hộc lưu trữ? Các câu hỏi này quyết định kích thước, cách mở và chỗ chừa thiết bị. Chọn một ảnh mẫu rồi sao cho mọi phòng thường bỏ sót việc sử dụng hằng ngày.

Ở sảnh, quầy lễ tân cần theo công việc của nhân viên: chỗ đặt màn hình, máy in, ngăn giấy tờ, lối đi dây và mặt giao tiếp với khách. Vách ốp sau quầy, kệ trưng bày hay chỗ để hành lý của khách chỉ đưa vào nếu có trong phạm vi được giao. Tủ đồ vải hoặc kho nhỏ phía sau cần kiểm cách nhân viên đưa đồ vào, lấy đồ ra, lối đi và việc lau chùi. Xưởng sẽ ghi riêng các khu này; không lấy cấu tạo tủ phòng nghỉ áp nguyên sang quầy hoặc khu phục vụ.

Lập danh mục theo loại phòng và khu, không đếm bằng ảnh phối cảnh

Khách sạn có thể gọi tên các hạng phòng khác nhau, nhưng xưởng cần một danh sách phục vụ sản xuất: có bao nhiêu kiểu mặt bằng thực sự khác nhau, mỗi kiểu có bao nhiêu phòng và mỗi phòng dùng những món gỗ nào. Hai phòng cùng tên có thể khác vị trí cột, cửa, ổ điện hoặc hướng mở tủ. Ngược lại, hai tên bán phòng khác nhau vẫn có thể dùng chung một bộ đồ gỗ. Vì vậy danh mục nên dựa trên mặt bằng và trang bị thật, không chỉ dựa trên tên phòng đăng bán.

Bảng dưới đây là phiếu anh/chị có thể chép ra để điền. Cột số lượng để trống có chủ ý: phải lấy từ hồ sơ cơ sở và kiểm lại tại hiện trường. Mỗi dòng nên có một người chịu trách nhiệm xác nhận trước khi xưởng chốt bản vẽ sản xuất.

Loại phòng/khu Phần đồ gỗ cần chốt Số lượng cần điền Thiết bị hoặc điểm phối hợp
Phòng mẫu loại A Giường/đầu giường, tủ áo, bàn, kệ và chỗ hành lý theo phạm vi giao. ___ phòng; ___ bộ mỗi phòng. Kích thước nệm, tivi, ổ điện, đèn, tủ lạnh nếu có.
Phòng mẫu loại B hoặc phòng có mặt bằng khác Ghi món dùng chung với loại A và món phải đổi kích thước/hướng mở. ___ phòng; ghi rõ số phòng ngoại lệ. Cột, cửa, vách, thiết bị hoặc đường dây khác mẫu.
Phòng đặc biệt theo bản vẽ cơ sở Danh mục riêng, không tự nhân từ mẫu chung. ___ phòng; ___ bộ theo bản duyệt. Thiết bị và yêu cầu sử dụng do chủ cơ sở cung cấp.
Sảnh và lễ tân Quầy, tủ phía nhân viên, mảng ốp/kệ nếu được giao. ___ khu; kích thước theo khảo sát. Máy tính, máy in, mạng, điện, lối nhân viên đi lại.
Kho đồ vải/khu phục vụ Tủ, kệ, ngăn cất theo loại đồ và thao tác lấy. ___ khu; số ngăn theo danh mục thật. Lối vận chuyển, điểm ẩm, lịch hoạt động của khu.

Ví dụ, “10 phòng giống nhau” chỉ đủ để ước lượng sơ bộ. Khi xem mặt bằng, có thể vài phòng bị cột sát tủ, một phòng có cửa mở ngược, hoặc vị trí tivi khác. Xưởng cần ghi các ngoại lệ ấy trên một bảng đi cùng mã phòng hoặc số phòng thực tế; nếu không, một sai khác nhỏ dễ bị lặp lại khi cắt nhiều bộ. Bảng này không thay bản đo. Nó giúp anh/chị và xưởng biết phải đo nơi nào, phần nào có thể làm chung, phần nào phải kiểm từng phòng.

Với một cơ sở nhỏ hoặc homestay có ít phòng, cách lập danh mục vẫn dùng được. Có thể mỗi phòng là một kiểu riêng, không cần ép vào “mẫu A, mẫu B” nếu điều đó làm sai hiện trạng. Anh/chị chỉ cần ghi đúng món gỗ của từng phòng, phần dùng chung và những chỗ khác nhau; xưởng sẽ dựa vào đó để xem phần nào làm theo một mẫu, phần nào phải đo và vẽ riêng.

Chốt phòng mẫu rồi mới nhân số lượng

Phòng mẫu là cách kiểm một cấu hình trước khi áp cho các phòng cùng loại. Anh/chị và xưởng cần chốt vị trí từng món trên mặt bằng, kích thước sau đo, mã bề mặt, màu, cạnh, tay nắm hoặc cách mở, chỗ dây điện và thiết bị. Nếu có một phòng thật để lắp thử, việc kiểm trực tiếp sẽ cho thấy lối đi, khoảng mở cửa tủ, chỗ kéo ghế và cách nhân viên lau dọn. Nếu chưa thể làm mẫu thực tế, bản vẽ và danh mục phải ghi rõ những điểm còn chờ kiểm; không nên gọi một hình phối cảnh là bản chốt sản xuất.

Khi duyệt xong, hãy lập một bảng “dùng chung” và “ngoại lệ”. Món nào giữ nguyên giữa các phòng? Món nào chỉ đổi hướng trái/phải? Món nào phải đo và sản xuất riêng? Cách ghi này giúp xưởng chuẩn bị phần lặp lại mà không bỏ qua phòng có cột, góc tường lệch hoặc ổ cắm bị dời. Nếu công trình đã hoàn thiện điện, điều hòa và sàn, mọi số đo cho đồ gỗ phải dựa trên hiện trạng sau những phần ấy, không dựa hoàn toàn vào bản thiết kế ban đầu.

Một thay đổi nhỏ sau khi nhân nhiều bộ có thể lan sang cả số lượng. Ví dụ chủ cơ sở đổi model tủ lạnh hoặc kích thước nệm, hộc và giường đã chốt có thể không còn phù hợp. Vì vậy nên đánh dấu ngày, phiên bản bản vẽ và người duyệt cấu hình. Bài duyệt bản vẽ thi công nội thất giúp anh/chị rà lại kích thước, thiết bị và vật liệu trước khi xưởng cắt tấm. Ở công trình khách sạn, bước này cần nối với danh sách số phòng dùng mỗi mẫu.

Phối hợp minibar, tivi, ổ điện và chỗ để hành lý

Nếu phòng có tủ lạnh nhỏ hoặc minibar, anh/chị cần gửi đúng model hoặc kích thước thiết bị dự kiến. Hộc gỗ phải xét cách mở cửa, lấy thiết bị ra khi bảo trì, đường dây và yêu cầu thông thoáng theo hướng dẫn của thiết bị. Không nên chỉ đo mặt trước rồi đóng kín ba phía. Nếu thiết bị chưa chọn, bản vẽ phải ghi đó là điểm chờ; kích thước cuối cùng cần chốt trước khi sản xuất hộc.

Tivi có thể gắn lên tường hoặc đi cùng một hệ gỗ; xưởng cần biết ai chịu phần giá treo, ổ điện và tuyến dây. Bàn đầu giường hoặc ốp đầu giường phải tránh che công tắc, ổ cắm, đèn đọc sách và điểm sửa chữa. Nếu cần đi dây qua phần gỗ, bên phụ trách điện xác nhận vị trí và cách làm an toàn; xưởng chừa lối theo bản đã thống nhất. Mục “có tivi” trên danh sách trang bị chưa đủ để đặt kệ hay khoan lỗ trên vách.

Chỗ để hành lý nên kiểm bằng đồ dùng thật hoặc kích thước sử dụng mà chủ cơ sở xác nhận. Đặt quá sát lối đi thì khách khó mở vali; đặt dưới bàn lại có thể vướng chân ghế hoặc ổ điện. Tủ áo cần tính chỗ móc treo, ngăn để đồ và cánh mở không đụng cửa phòng. Những điều này thuộc cách sử dụng phòng, không phải một bộ kích thước chung cho mọi cơ sở. Khi đi khảo sát, xưởng có thể cùng anh/chị đánh dấu vị trí thuận cho khách và không cản đường nhân viên dọn phòng.

Vật liệu và cấu tạo phải tính đến cách dùng, lau dọn

Đồ gỗ trong phòng nghỉ được chạm tay và lau thường xuyên. Mặt bàn, cạnh tủ, chỗ đặt hành lý và chân đồ gần sàn có mức sử dụng khác nhau. Vì vậy đừng chọn một tên “gỗ công nghiệp” rồi coi mọi vị trí như nhau. Cần chốt loại cốt, bề mặt, cạnh, phụ kiện và cách bảo dưỡng theo vị trí thực. Bài phân biệt cốt và bề mặt gỗ công nghiệp giải thích những tên vật liệu dễ nhầm; bản của khách sạn vẫn phải dùng mã vật liệu thật do hai bên duyệt.

Anh/chị nên hỏi người trực tiếp dọn phòng: chỗ nào thường bám bụi, chỗ nào hay bị va vali, món nào cần di chuyển để lau sàn, ngăn nào cần lấy đồ nhanh. Một rãnh trang trí rất đẹp trên ảnh có thể khó lau nếu ở ngay đầu giường hoặc quầy sử dụng nhiều. Một chân tủ đóng sát nền có thể che góc bẩn nếu không có cách tiếp cận. Đó là những lựa chọn cần giải quyết trên bản vẽ trước khi nhân số lượng, vì lỗi dùng hằng ngày sẽ lặp lại ở nhiều phòng.

Với vị trí gần cửa sổ hắt mưa, khu giặt hoặc tường có dấu ẩm, cần kiểm nguyên nhân ẩm và cách sử dụng khu đó trước khi chọn tấm. Không có loại ván nào thay được việc xử lý nước rò hoặc mặt bằng luôn ướt. Bài gỗ công nghiệp cho nơi ẩm, gần biển Đà Nẵng giúp nhận diện những nguồn ẩm thường gặp. Ở công trình này, quyết định cuối cùng phải theo vị trí thực, phương án vệ sinh và mã vật liệu được chốt, không theo lời hứa “chống nước” chung chung.

Quầy lễ tân, sảnh và tủ đồ vải cần bản kiểm riêng

Quầy lễ tân là nơi nhân viên làm việc, không chỉ là mảng gỗ để khách nhìn. Anh/chị hãy liệt kê số vị trí làm việc theo phương án của cơ sở, thiết bị đặt trên hoặc dưới quầy, ngăn lưu giấy tờ, chỗ đưa đồ cho khách và mặt sau cần mở sửa. Nếu quầy có logo, đèn hoặc vật liệu khác, cần ghi bên nào làm từng phần. Xưởng chốt phạm vi gỗ và các điểm chờ để không che ổ điện, mạng hay thiết bị của lễ tân.

Ở sảnh, một mảng ốp có thể kéo qua quầy hoặc gặp cửa, trần, sàn. Chỗ nối phải được vẽ và phân việc với đội khác. Nếu cơ sở muốn làm cả vách gỗ, bài thi công vách ốp và vách ngăn gỗ công nghiệp nói kỹ hơn về nền, liên kết và lối mở kỹ thuật. Bài đang đọc chỉ đặt vách vào danh mục chung của khách sạn để không quên điểm giao với quầy và thiết bị.

Tủ đồ vải hoặc tủ dụng cụ cần xem loại đồ sẽ cất, cách xếp và lối nhân viên lấy ra. Không nên tự chia ngăn đều nhau khi khăn, ga, dụng cụ và đồ tiêu hao có kích thước, cách quản lý khác nhau. Nếu khu này gần đường nước hoặc nơi lau ướt, phải kiểm điều kiện thực trước khi chốt cấu tạo. Tủ cho nhân viên dùng thường xuyên cần cửa mở, lối đứng và chỗ vận chuyển thuận; nhìn từ sảnh đẹp không phải tiêu chí chính của khu phục vụ.

Báo giá theo danh mục và bàn giao theo phòng hoặc khu

Một báo giá dễ kiểm nên tách số loại phòng, số phòng mỗi loại, danh sách món trong một phòng mẫu, các phòng ngoại lệ và phần gỗ ở khu chung. Với từng món, cần có vật liệu, bề mặt, phụ kiện, kích thước theo bản đã duyệt và phạm vi lắp đặt. Đồ điện, thiết bị, đồ vải, logo, mặt đá hoặc phần do đội khác thực hiện cần ghi rõ có nằm trong báo giá hay không. Nếu chỉ thấy một dòng “nội thất 20 phòng” thì anh/chị khó biết phòng nào dùng mẫu nào và thiếu món gì.

Giá còn phụ thuộc hiện trạng, số lượng thật, thiết bị, điều kiện vận chuyển và phạm vi phối hợp, nên bài này không đưa đơn giá giả. Hướng dẫn đọc báo giá nội thất gỗ công nghiệp giúp anh/chị kiểm phần gồm và không gồm khi so phương án. Với khách sạn đang hoạt động, lịch đưa vật tư, nơi tập kết và thời điểm mở từng khu cũng là đầu vào của báo giá; chỉ có địa chỉ và số phòng chưa đủ để hứa ngày hoàn thành.

Khi bàn giao, nên có danh sách theo số phòng hoặc mã khu đã thống nhất: phòng nào lắp xong, món nào còn chờ thiết bị, món nào cần chỉnh, ai xác nhận. Kiểm cửa tủ đóng mở, cạnh hoàn thiện, vị trí ổ điện không bị che, thiết bị đặt vừa và có lối lấy ra theo bản đã duyệt. Ở quầy và khu phục vụ, thử thao tác của người sẽ sử dụng. Những việc thuộc điện hoặc thiết bị cần bên phụ trách xác nhận riêng. Bài nghiệm thu nội thất gỗ công nghiệp có checklist rộng hơn; với khách sạn hãy gắn checklist ấy với mã phòng và danh mục thực tế.

Nếu bàn giao theo từng tầng hoặc từng cụm phòng, phải thống nhất khu nào đủ điều kiện lắp, đường vận chuyển, chỗ bảo quản vật tư và cách hạn chế ảnh hưởng tới hoạt động đang diễn ra. Không nên hiểu “chia đợt” là xưởng có thể làm bất kỳ lúc nào hoặc cam kết cơ sở luôn mở bán phòng bình thường. Chủ cơ sở, ban quản lý và các đội liên quan cần chốt lịch cùng nhau, rồi mới xác định mốc cho phần gỗ.

Anh/chị gửi gì để Xưởng khảo sát đúng việc?

Hãy gửi mặt bằng hoặc ảnh từng loại phòng; bảng số phòng theo loại; ảnh các phòng có cột, tường lệch hoặc vị trí thiết bị khác; danh sách món gỗ muốn giao; model hoặc kích thước nệm, tivi, tủ lạnh và thiết bị liên quan nếu đã chọn. Với sảnh và khu phục vụ, gửi ảnh toàn cảnh, vị trí quầy/tủ, điểm điện nước đã có và phần nào do bên khác phụ trách. Nếu cơ sở đang hoạt động, cho biết khu nào có thể khảo sát hoặc thi công, điều kiện vận chuyển và người đầu mối duyệt bản vẽ.

Chưa có đủ hồ sơ cũng không sao: anh/chị có thể đánh dấu “chưa chốt thiết bị”, “chưa đo phòng này” hoặc “chưa rõ phạm vi quầy”. Cách ghi thật giúp xưởng chỉ ra phần cần khảo sát, tránh đưa một kích thước phỏng đoán vào sản xuất. Sau khi xem mặt bằng và hiện trạng, hai bên mới chốt danh mục, cấu hình phòng mẫu, ngoại lệ, vật liệu và phần việc của từng đội.

Với công trình nội thất khách sạn tại Đà Nẵng, anh/chị liên hệ Xưởng Làm Mộc qua 0909.918.210. Gửi trước số loại phòng, số phòng mỗi loại và khu gỗ cần làm; Xưởng sẽ trao đổi phạm vi khảo sát và phương án thi công phần đồ gỗ theo công trình của anh/chị.